BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Thảo luận trong 'Y-Học Hiện Đại' bắt đầu bởi Cát Tường Như Ý, 15/10/13.

  1. BỆNH TIỂU ĐƯỜNG


    Đủ thấy bệnh tiểu đường là một căn bệnh quan trọng, khám phá sớm và chữa trị đúng, sẽ ngăn ngừa được những biến chứng quan trọng ảnh hưởng đến phẩm chất cuộc sống của người bệnh. Trong loạt bài về bệnh tiểu đường, chúng ta sẽ tìm hiểu căn bệnh, những biến chứng do nó gây ra, những phương cách chữa trị hiện được sử dụng tại Mỹ, đồng thời những việc chúng ta cần làm cho đúng với chỉ thị của Medicare.
    Tiểu đường là tiếng Việt ta vẫn thường dùng để chỉ bệnh cao chất đường trong máu. (Xin bạn nhớ luôn tên tiếng Anh, diabetes mellitus; trong nhà thương, họ không dùng tiếng Việt.) Đường lên cao hơn mức bình thường trong máu, nên được thận thải ra theo nước tiểu. Vì vậy trong nước tiểu có chất đường (bình thường nước tiểu không có đường).
    Đây là một bệnh quan trọng nhiều người bị, đang có khuynh hướng tăng trên toàn thế giới, nên được y học rất chú ý và không ngừng nghiên cứu. Trung bình, trong 100 người chúng ta, có 1 vị bị tiểu đường. Về lâu về dài, bệnh gây những biến chứng quan trọng ở mắt, thận, thần kinh và mạch máu. Tiểu đường cũng đưa dẫn đến bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary artery disease). Nhiều trường hợp bệnh không gây triệu chứng, nên chúng ta không biết, tình cờ thử máu mới tìm ra bệnh.
    Trong loạt bài về bệnh tiểu đường, chúng tôi xin trình bày những kiến thức mới về căn bệnh.
    Đường (carbohydrates) là một trong những chất biến dưỡng căn bản của cơ thể, có trong cơm gạo, bánh mì, các thức ăn ngọt, ... Các chất biến dưỡng căn bản khác là chất đạm (protein), chất mỡ (lipids), sinh tố (vitamins), muối khoáng (minerals).
    Gần như mọi tế bào của cơ thể ta đều cần có chất đường để hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được chất đường vào những hoạt động cần thiết của mình, các tế bào cần đến một chất gọi là insulin. Insulin giúp đưa chất đường từ máu vào trong các tế bào, và điều hòa lượng đường trong máu để đường trong máu không bao giờ lên quá cao. Insulin tiết bởi tụy tạng (pancreas), một cơ quan nằm ở bụng trên, phía sau bao tử.
    Tụy tạng giữ 2 nhiệm vụ: tiết các diếu tố (enzymes) giúp vào sự tiêu hóa, và tiết các chất như insulin, glucagon cần cho sự biến dưỡng của các tế bào. Insulin được tiết bởi các tế bào có tên beta (beta cells) trong tụy tạng. Khi các tế bào beta của tụy tạng không tiết đủ chất insulin cơ thể cần, đường trong máu lên cao, vì không vào được trong các tế bào. Hoặc dù chất insulin có đủ, song vì một lý do nào đó, tế bào không sử dụng được chất insulin để đưa đường vào được bên trong tế bào, đường cũng tăng cao trong máu.
    Do thế, tiểu đường được chia thành hai loại: loại 1 (loại thiếu chất insulin trong cơ thể) và loại 2 (loại có insulin trong cơ thể, nhưng tế bào không dùng được insulin). Hai loại tiểu đường này có nhiều điểm khác biệt với nhau. 90% số người bị tiểu đường mang bệnh tiểu đường loại 2.
    Bài này chúng ta tìm hiểu bệnh tiểu đường loại 1, bệnh tiểu đường loại 2 sẽ được bàn đến trong bài kỳ sau.
    Tiểu đường loại 1
    Tiểu đường loại 1 xảy ra cho các cháu bé và người trẻ, hay bắt đầu trong khoảng tuổi 4 đến 6 và khoảng tuổi 10 đến 14. Loại tiểu đường này, có lẽ do di truyền, tuy điều này chưa được hiểu rõ. Nếu có bố, mẹ, hay anh chị em ruột mang bệnh tiểu đường loại này, cơ hội để một cháu bé trong gia đình có thể bị bệnh là 5-10%. Nếu có anh em song sinh mang bệnh, nguy cơ sau bị tiểu đường còn cao hơn nữa. Các cháu trai mang bệnh nhiều hơn các cháu gái.
    Bệnh gây do sự hủy hoại của các tế bào beta có nhiệm vụ tiết insulin trong tụy tạng. Vì sao các tế bào beta này hư hỏng và không làm việc nữa, điều này còn nằm trong vòng giả thuyết, chưa ai biết rõ. Có thể, vì di truyền, các tế bào beta của tụy tạng đã "yếu" sẵn, rồi sau bị những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như siêu vi (virus), tấn công, nên hư hoại luôn, không còn khả năng tiết ra insulin.
    Triệu chứng
    Triệu chứng tiểu đường loại 1 của các cháu bé và người trẻ có thể biểu hiện dưới ba hình thái.
    Thường nhất, các cháu đi tiểu nhiều, thấy khát nước luôn nên uống nước nhiều, xuống cân dù ăn nhiều, và trông không còn linh hoạt. Triệu chứng có thể đột ngột, có khi trong vòng vài ngày. Một số cháu chỉ có triệu chứng mơ hồ, như xuống cân, trông có vẻ đờ đẫn, còn việc khát nước nhiều, đi tiểu nhiều, bố mẹ không để ý vì nhiều cháu còn mang tã. (Chúng ta cần để ý các cháu có đi tiểu đêm nhiều hoặc đái dầm ra giường không, tã hay ướt và cần thay thường không.) Một số cháu nhỏ và cháu gái hay bị nấm vùng bộ phận sinh dục. Đường cao trong máu cũng khiến các cháu nhìn không rõ.
    Cũng có cháu trước giờ vẫn khỏe mạnh, không có triệu chứng, nay đột nhiên hôn mê, bị một tình trạng gọi là diabetic ketoacidosis. Khi đưa vào bệnh viện và thử máu, mới thấy đường lên quá cao trong máu. Đo lượng insulin trong máu, thấy chất insulin trong máu rất thấp hoặc không thấy có insulin gì cả. Các cháu dưới 6 tuổi, chưa biết diễn tả nhiều, chưa biết tự đi lấy nước uống, và những cháu trong các gia đình có lợi tức và trình độ học thức thấp, ít để ý đến vấn đề sức khỏe, dễ bị tình trạng này.
    Hình thái thứ ba của bệnh tiểu đường loại 1 là hình thái bệnh không gây triệu chứng gì cả, các cháu vẫn khỏe mạnh, và bệnh được tìm ra khi các cháu có dịp đi bác sĩ khám tổng quát. Hình thái bệnh này ít hơn so với hai hình thái bệnh trên.
    Định bệnh
    Bệnh tiểu đường được định theo tiêu chuẩn của American Diabetes Association (ADA, Hiệp Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ), bằng 1 trong 4 cách sau:
    - Đường máu đo sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng cao hơn 125 mg/dl
    - Người bệnh có triệu chứng và đường đo lúc không nhịn đói thấy cao trên 200 mg/dl
    - Oral glucose tolerance test (OGTT) bất thường: sau khi cho ăn đường glucose 1.75 g/kg (tối đa 75 g), 2 tiếng sau đo đường máu, thấy vẫn cao hơn 200 mg/dl
    - Trị số HbA1C (biểu thị lượng đường trung bình trong máu chúng ta trong vòng 3 tháng qua) bằng hay cao hơn 6.5.
    Nếu nghi bệnh tiểu đường, chúng ta dùng một trong 4 cách định bệnh trên, và nếu thử lại lần nữa, vẫn bất thường như vậy, người bệnh được xem có bệnh tiểu đường.
    Chữa trị
    Một khi cháu bé hoặc người trẻ đã được định ra có bệnh tiểu đường loại 1, sự chữa trị là dùng thuốc chích insulin, để thay thế cho chất insulin không có đủ trong cơ thể. Thuốc uống không chữa được bệnh tiểu đường loại 1.
    Bài kỳ sau, chúng ta sẽ tìm hiểu bệnh tiểu đường loại 2, loại bệnh tiểu đường người lớn chúng ta hay bị.
    Gia Ngộ and Dongho like this.
  2. TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2

    biến chứng của bệnh tiểu
    Tuần trước chúng ta đã tìm hiểu bệnh tiểu đường loại 1, xảy ra cho trẻ em và người trẻ tuổi. (Bài hiện đăng trên website saigontimesusa.com, mục Y Khoa Tổng Quát của tuần báo Saigon Times.) Tuần này chúng ta bàn về bệnh tiểu đường loại 2 (Diabetes mellitus type 2), hay xuất hiện ở người lớn nặng cân.
    Xin ôn lại một chút, đường (carbohydrates) là một trong những chất biến dưỡng căn bản của cơ thể, có trong cơm gạo, bánh mì, thức ăn ngọt, ..., các chất biến dưỡng căn bản khác là chất đạm (protein), chất mỡ (lipids), sinh tố (vitamins), muối khoáng (minerals).
    Gần như mọi tế bào của cơ thể ta đều cần có chất đường để hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được chất đường vào những hoạt động cần thiết của mình, các tế bào cần đến insulin. Insulin giúp đưa đường từ máu vào trong các tế bào, và điều hòa lượng đường trong máu để đường trong máu không bao giờ lên quá cao. Insulin tiết bởi các tế bào beta trong tụy tạng (pancreas), một cơ quan nằm ở bụng trên, phía sau bao tử. Khi các tế bào beta này của tụy tạng không tiết đủ chất insulin, đường trong máu lên cao, vì không thể vào trong các tế bào. Hoặc dù chất insulin có đủ, song vì một lý do nào đó, tế bào không sử dụng được chất insulin, đường cũng tăng cao trong máu.
    Do thế, tiểu đường được chia thành hai loại: loại 1 (loại thiếu chất insulin trong cơ thể) và loại 2 (loại có insulin trong cơ thể, nhưng tế bào không dùng được insulin). 90% số người tiểu đường mang bệnh tiểu đường loại 2.
    Cơ chế
    Tiểu đường loại 2 thường xảy ra ở người trên tuổi 40, song gần đây, cũng xuất hiện không ít ở trẻ con và người trẻ, vì ngày càng nhiều trẻ con và người trẻ béo mập hơn trước.
    Tại Mỹ, khoảng 8% dân số bị tiểu đường loại 2, đây là một con số rất lớn. Thêm vào đấy, có thể rất nhiều người khác mang bệnh nhưng không biết mình đang mang bệnh. Một khảo cứu cho thấy, trong vòng 30 năm qua, số người bệnh tiểu đường ở Mỹ đã tăng gấp đôi.
    80% số người bị tiểu đường loại 2 béo mập (obese) hoặc nặng cân hơn bình thường (overweight). Khi đo lượng insulin trong máu những người nặng cân và bị tiểu đường, người ta thấy insulin trong máu bình thường, hoặc có khi còn cao hơn bình thường.
    Có đủ insulin trong người, mà vẫn bị tiểu đường? Chỉ vì, muốn dùng được insulin, trên mặt các tế bào phải có đủ những chỗ tiếp nhận insulin, gọi là "insulin receptors". Trên mặt các tế bào mỡ của những vị bị tiểu đường loại 2 không có đủ những chỗ tiếp nhận hầu insulin có thể bám vào để tác động, đưa đường từ ngoài máu vào bên trong tế bào. Nên cơ chế chính gây tiểu đường loại 2 ở những vị béo mập là do các tế bào mỡ thiếu những chỗ tiếp nhận insulin, và sự chữa trị hàng đầu là xuống cân.
    Sự di truyền trong trường hợp tiểu đường loại 2 còn mạnh hơn loại 1. Nếu có anh em sinh đôi bị tiểu đường loại 2, người kia trước sau gì cũng bị tiểu đường cùng loại. Nếu có bố mẹ bị tiểu đường loại này, gần như 1/3 con cái sinh ra sau này cũng bị tiểu đường, hoặc có những thử máu bất thường.
    Một vài loại thuốc có tác dụng chống lại tác dụng của insulin (thuốc chứa chất steroid như Prednisone), hoặc ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng (thuốc cao áp huyết như Tenormin, Inderal, các thuốc lợi tiểu thiazide diuretics, thuốc chữa kinh phong Dilantin, ...) cũng có thể bất ngờ làm đường tăng cao trong máu. Khi đi khám bác sĩ, bao giờ cũng vậy, bạn nhớ đem tất cả các thuốc dùng ở nhà đến cho bác sĩ xem.
    Ai dễ bị tiểu đường loại 2?
    Từ tuổi 45 trở đi, tiểu đường loại 2 dễ xuất hiện. Đấy là với người Mỹ trắng, với những người thuộc các thành phần sau (kể cả người Mỹ da vàng chúng ta), tiểu đường loại 2 có thể đến sớm hơn:
    - Người nặng cân (có chỉ số khối lượng cơ thể BMI từ 25 trở lên).
    - Có bố, mẹ, anh, chị, em ruột mang bệnh tiểu đường.
    - Người Á đông, da đen, da đỏ, người gốc Hispanic, dân vùng đảo Thái Bình Dương.
    - Bị tiểu đường lúc mang thai, hoặc sanh con nặng trên 9 pounds (4.1 kg).
    - Có cao áp huyết (áp huyết 140/90 trở lên).
    - Người có lượng mỡ triglycerides trong máu cao 250 trở lên
    - Đời sống ít thể dục thể thao.
    - Người có bệnh mạch máu.
    Nặng cân được xem là một trong những yếu tố quan trọng dễ đưa đến tiểu đường. Vì vậy, hiện Medicare, MediCal (ở các tiểu bang khác gọi là Medicaid) muốn các bác sĩ hành nghề trên đất Mỹ dùng hồ sơ điện tử (Electronic Medical Record), và sử dụng sự tinh nhạy của điện toán để tính ra chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index, viết tắt BMI) cho tất cả người bệnh bước chân vào phòng mạch. (Khả năng điện toán của hồ sơ điện tử còn giúp chúng ta rất nhiều việc khác nữa, chẳng hạn bác sĩ có thể bảo nó nhắc mình bao giờ sẽ phải thử máu lại cho người bệnh, bao giờ cần đưa người bệnh đi khám mắt, soi ruột già lại) Hiện nền y tế Hoa Kỳ đang chuyển hướng, từ "fee-for-service" (trả tiền cho dịch vụ cung ứng bởi bác sĩ, không nắm vững được dịch vụ này của bác sĩ có xứng với đồng tiền Medicare trả không, hay bác sĩ luôn nhận tiền thực từ Medicare, song toàn bán hàng giả cho người bệnh, nói rất ít, thăm khám qua quít chưa đến vài phút, thuốc thì biên hàng đống, song không giải thích cho người bệnh rõ vấn đề của họ, khuyên họ những việc cần làm để duy trì sức khỏe) sang "quality of care" (chăm sóc có phẩm chất) dùng các phương tiện điện tử hiện đại. Với hồ sơ điện tử, bác sĩ sẽ phải làm việc có qui củ, chăm sóc cho người bệnh kỹ lưỡng hơn.
    Đi khám bác sĩ, bạn cũng nên hỏi bác sĩ BMI của mình bao nhiêu để còn sớm lo liệu, nếu ở mức 25 trở lên, bạn nên nỗ lực ăn bớt đi, vận động nhiều hơn để xuống cân.
    Triệu chứng
    Nhiều trường hợp bệnh tiểu đường loại 2, giống bệnh cao áp huyết, lặng lẽ tàn phá cơ thể ta, không gây triệu chứng khiến ta chú ý. Nhiều vị tình cờ thử máu, khi đi khám bác sĩ hay mua bảo hiểm sức khỏe, giật mình thấy đường trong máu mình sao cao thế.
    Triệu chứng do căn bệnh nếu có, cũng từ từ, không đột ngột như trong trường hợp tiểu đường loại 1. Người bệnh đi tiểu hoài, cả ban đêm, uống nước luôn vì thấy khát quá, ăn không ngơi do thấy ngon miệng. Có vị xuống cân, mệt mỏi. Một khi triệu chứng xuất hiện, thường, tiểu đường đến đã vài năm.
    Định bệnh
    Cũng như tiểu đường loại 1, bệnh tiểu đường loại 2 được định theo tiêu chuẩn của American Diabetes Association (ADA, Hiệp Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ), bằng 1 trong 4 cách sau:
    - Đường máu đo sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng cao hơn 125 mg/dl
    - Người bệnh có triệu chứng của tiểu đường và đường máu đo lúc không nhịn đói thấy cao trên 200 mg/dl
    - Oral glucose tolerance test (OGTT) bất thường: sau khi cho ăn đường glucose 1.75 g/kg (tối đa 75 g), 2 tiếng sau đo đường máu, thấy vẫn cao hơn 200 mg/dl
    - Trị số HbA1C (biểu thị lượng đường trung bình trong máu chúng ta trong vòng 3 tháng qua) bằng hay cao hơn 6.5.
    Nếu nghi bệnh tiểu đường, chúng ta dùng một trong 4 cách định bệnh trên, và nếu thử lại lần nữa, vẫn bất thường như vậy, người bệnh được xem có bệnh tiểu đường. Cần thử 2 lần, chúng ta mới dám nói đúng là có bệnh tiểu đường.
    Xin hẹn đến tuần tới, chúng ta sẽ bàn tiếp đến các đường

    biến chứng của bệnh tiểu
    Tuần trước chúng ta đã tìm hiểu bệnh tiểu đường loại 1, xảy ra cho trẻ em và người trẻ tuổi. (Bài hiện đăng trên website saigontimesusa.com, mục Y Khoa Tổng Quát của tuần báo Saigon Times.) Tuần này chúng ta bàn về bệnh tiểu đường loại 2 (Diabetes mellitus type 2), hay xuất hiện ở người lớn nặng cân.
    Xin ôn lại một chút, đường (carbohydrates) là một trong những chất biến dưỡng căn bản của cơ thể, có trong cơm gạo, bánh mì, thức ăn ngọt, ..., các chất biến dưỡng căn bản khác là chất đạm (protein), chất mỡ (lipids), sinh tố (vitamins), muối khoáng (minerals).
    Gần như mọi tế bào của cơ thể ta đều cần có chất đường để hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được chất đường vào những hoạt động cần thiết của mình, các tế bào cần đến insulin. Insulin giúp đưa đường từ máu vào trong các tế bào, và điều hòa lượng đường trong máu để đường trong máu không bao giờ lên quá cao. Insulin tiết bởi các tế bào beta trong tụy tạng (pancreas), một cơ quan nằm ở bụng trên, phía sau bao tử. Khi các tế bào beta này của tụy tạng không tiết đủ chất insulin, đường trong máu lên cao, vì không thể vào trong các tế bào. Hoặc dù chất insulin có đủ, song vì một lý do nào đó, tế bào không sử dụng được chất insulin, đường cũng tăng cao trong máu.
    Do thế, tiểu đường được chia thành hai loại: loại 1 (loại thiếu chất insulin trong cơ thể) và loại 2 (loại có insulin trong cơ thể, nhưng tế bào không dùng được insulin). 90% số người tiểu đường mang bệnh tiểu đường loại 2.
    Cơ chế
    Tiểu đường loại 2 thường xảy ra ở người trên tuổi 40, song gần đây, cũng xuất hiện không ít ở trẻ con và người trẻ, vì ngày càng nhiều trẻ con và người trẻ béo mập hơn trước.
    Tại Mỹ, khoảng 8% dân số bị tiểu đường loại 2, đây là một con số rất lớn. Thêm vào đấy, có thể rất nhiều người khác mang bệnh nhưng không biết mình đang mang bệnh. Một khảo cứu cho thấy, trong vòng 30 năm qua, số người bệnh tiểu đường ở Mỹ đã tăng gấp đôi.
    80% số người bị tiểu đường loại 2 béo mập (obese) hoặc nặng cân hơn bình thường (overweight). Khi đo lượng insulin trong máu những người nặng cân và bị tiểu đường, người ta thấy insulin trong máu bình thường, hoặc có khi còn cao hơn bình thường.
    Có đủ insulin trong người, mà vẫn bị tiểu đường? Chỉ vì, muốn dùng được insulin, trên mặt các tế bào phải có đủ những chỗ tiếp nhận insulin, gọi là "insulin receptors". Trên mặt các tế bào mỡ của những vị bị tiểu đường loại 2 không có đủ những chỗ tiếp nhận hầu insulin có thể bám vào để tác động, đưa đường từ ngoài máu vào bên trong tế bào. Nên cơ chế chính gây tiểu đường loại 2 ở những vị béo mập là do các tế bào mỡ thiếu những chỗ tiếp nhận insulin, và sự chữa trị hàng đầu là xuống cân.
    Sự di truyền trong trường hợp tiểu đường loại 2 còn mạnh hơn loại 1. Nếu có anh em sinh đôi bị tiểu đường loại 2, người kia trước sau gì cũng bị tiểu đường cùng loại. Nếu có bố mẹ bị tiểu đường loại này, gần như 1/3 con cái sinh ra sau này cũng bị tiểu đường, hoặc có những thử máu bất thường.
    Một vài loại thuốc có tác dụng chống lại tác dụng của insulin (thuốc chứa chất steroid như Prednisone), hoặc ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng (thuốc cao áp huyết như Tenormin, Inderal, các thuốc lợi tiểu thiazide diuretics, thuốc chữa kinh phong Dilantin, ...) cũng có thể bất ngờ làm đường tăng cao trong máu. Khi đi khám bác sĩ, bao giờ cũng vậy, bạn nhớ đem tất cả các thuốc dùng ở nhà đến cho bác sĩ xem.
    Ai dễ bị tiểu đường loại 2?
    Từ tuổi 45 trở đi, tiểu đường loại 2 dễ xuất hiện. Đấy là với người Mỹ trắng, với những người thuộc các thành phần sau (kể cả người Mỹ da vàng chúng ta), tiểu đường loại 2 có thể đến sớm hơn:
    - Người nặng cân (có chỉ số khối lượng cơ thể BMI từ 25 trở lên).
    - Có bố, mẹ, anh, chị, em ruột mang bệnh tiểu đường.
    - Người Á đông, da đen, da đỏ, người gốc Hispanic, dân vùng đảo Thái Bình Dương.
    - Bị tiểu đường lúc mang thai, hoặc sanh con nặng trên 9 pounds (4.1 kg).
    - Có cao áp huyết (áp huyết 140/90 trở lên).
    - Người có lượng mỡ triglycerides trong máu cao 250 trở lên
    - Đời sống ít thể dục thể thao.
    - Người có bệnh mạch máu.
    Nặng cân được xem là một trong những yếu tố quan trọng dễ đưa đến tiểu đường. Vì vậy, hiện Medicare, MediCal (ở các tiểu bang khác gọi là Medicaid) muốn các bác sĩ hành nghề trên đất Mỹ dùng hồ sơ điện tử (Electronic Medical Record), và sử dụng sự tinh nhạy của điện toán để tính ra chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index, viết tắt BMI) cho tất cả người bệnh bước chân vào phòng mạch. (Khả năng điện toán của hồ sơ điện tử còn giúp chúng ta rất nhiều việc khác nữa, chẳng hạn bác sĩ có thể bảo nó nhắc mình bao giờ sẽ phải thử máu lại cho người bệnh, bao giờ cần đưa người bệnh đi khám mắt, soi ruột già lại) Hiện nền y tế Hoa Kỳ đang chuyển hướng, từ "fee-for-service" (trả tiền cho dịch vụ cung ứng bởi bác sĩ, không nắm vững được dịch vụ này của bác sĩ có xứng với đồng tiền Medicare trả không, hay bác sĩ luôn nhận tiền thực từ Medicare, song toàn bán hàng giả cho người bệnh, nói rất ít, thăm khám qua quít chưa đến vài phút, thuốc thì biên hàng đống, song không giải thích cho người bệnh rõ vấn đề của họ, khuyên họ những việc cần làm để duy trì sức khỏe) sang "quality of care" (chăm sóc có phẩm chất) dùng các phương tiện điện tử hiện đại. Với hồ sơ điện tử, bác sĩ sẽ phải làm việc có qui củ, chăm sóc cho người bệnh kỹ lưỡng hơn.
    Đi khám bác sĩ, bạn cũng nên hỏi bác sĩ BMI của mình bao nhiêu để còn sớm lo liệu, nếu ở mức 25 trở lên, bạn nên nỗ lực ăn bớt đi, vận động nhiều hơn để xuống cân.
    Triệu chứng
    Nhiều trường hợp bệnh tiểu đường loại 2, giống bệnh cao áp huyết, lặng lẽ tàn phá cơ thể ta, không gây triệu chứng khiến ta chú ý. Nhiều vị tình cờ thử máu, khi đi khám bác sĩ hay mua bảo hiểm sức khỏe, giật mình thấy đường trong máu mình sao cao thế.
    Triệu chứng do căn bệnh nếu có, cũng từ từ, không đột ngột như trong trường hợp tiểu đường loại 1. Người bệnh đi tiểu hoài, cả ban đêm, uống nước luôn vì thấy khát quá, ăn không ngơi do thấy ngon miệng. Có vị xuống cân, mệt mỏi. Một khi triệu chứng xuất hiện, thường, tiểu đường đến đã vài năm.
    Định bệnh
    Cũng như tiểu đường loại 1, bệnh tiểu đường loại 2 được định theo tiêu chuẩn của American Diabetes Association (ADA, Hiệp Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ), bằng 1 trong 4 cách sau:
    - Đường máu đo sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng cao hơn 125 mg/dl
    - Người bệnh có triệu chứng của tiểu đường và đường máu đo lúc không nhịn đói thấy cao trên 200 mg/dl
    - Oral glucose tolerance test (OGTT) bất thường: sau khi cho ăn đường glucose 1.75 g/kg (tối đa 75 g), 2 tiếng sau đo đường máu, thấy vẫn cao hơn 200 mg/dl
    - Trị số HbA1C (biểu thị lượng đường trung bình trong máu chúng ta trong vòng 3 tháng qua) bằng hay cao hơn 6.5.
    Nếu nghi bệnh tiểu đường, chúng ta dùng một trong 4 cách định bệnh trên, và nếu thử lại lần nữa, vẫn bất thường như vậy, người bệnh được xem có bệnh tiểu đường. Cần thử 2 lần, chúng ta mới dám nói đúng là có bệnh tiểu đường.
    Xin hẹn đến tuần tới, chúng ta sẽ bàn tiếp đến các đường
    Gia Ngộ thích bài này.
  3. BIẾN CHỨNG CỦA TIỂU ĐƯỜNG

    chúng ta bàn đến các biến chứng (complications) của bệnh tiểu đường.
    Tiểu đường gây nhiều biến chứng. Có biến chứng cấp thời, đe dọa tính mạng, có những biến chứng xa, làm giảm tuổi thọ, làm đời ta kém vui. Bệnh xảy ra càng sớm, càng gây nhiều biến chứng. (Vì vậy, Medicare đặc biệt chú trọng đến việc chữa trị tiểu đường cho người thụ hưởng Medicare, đưa chỉ thị xuống các tổ hợp y tế để bác sĩ thi hành, thực hiện những việc cần làm cho các vị cao niên gia nhập tổ hợp. Các vị cao niên gia nhập một tổ hợp y tế thường được chăm sóc kỹ lưỡng hơn người không gia nhập, vì tổ hợp kiểm soát các bác sĩ, thường xuyên nhắc nhở bác sĩ phải thi hành chỉ thị của Medicare. Thực ra, với các vị không gia nhập tổ hợp, đi nhiều bác sĩ khác nhau, không ai nắm vững được những gì chưa làm, những gì đã làm, và kết quả ra sao, bao giờ phải làm lại. Năm 2013 tới, có thể các vị có Medi-Medi sẽ buộc phải gia nhập một tổ hợp y tế.)
    Biến chứng cấp thời
    1. Hôn mê do đường máu lên quá cao:
    Đường trong máu lên cao quá có thể gây hôn mê, nguy đến tính mạng.
    Hôn mê do đường máu quá cao hay xảy ra ở người tiểu đường loại 1, khi họ quên chích insulin. Hôn mê có khi cũng xảy ra khi người bệnh gặp những căng thẳng về tinh thần (buồn bực, âu lo) hay thể chất (bị bệnh nhiễm trùng, sau khi giải phẫu, ...), dù vẫn đang dùng thuốc chích insulin đều mỗi ngày. Hôn mê do đường máu lên quá cao được báo hiệu bằng các triệu chứng tiêu hóa: ăn không ngon miệng, buồn nôn, ói mửa, đau bụng, đi tiểu nhiều. Người bệnh cần được nhập viện ngay để chữa trị, nếu không, sẽ đâm mất sáng suốt rồi đi dần vào hôm mê. Khi thử máu, thường thấy đường máu cao đến 500 mg/dl.
    Người tiểu đường loại 2 cũng có khi bị hôn mê khi đường máu lên quá cao (thường 1.000 mg/dl), tuy theo một cơ chế khác.
    2. Hôn mê do đường máu xuống quá thấp:
    Đường máu xuống quá thấp cũng gây hôn mê. Đường xuống thấp do ta dùng thuốc, nhưng có hôm vui quá, quên cả ăn, hoặc có hôm hăng quá, vận động hơi nhiều. Có khi đường xuống thấp chẳng vì lý do nào rõ rệt.
    Nếu đường xuống thấp ban ngày, ta thấy đói lắm, đến toát mồ hôi, run cả tay chân, nóng nảy, nổi quạu. Đường xuống thấp ban đêm, có khi không gây triệu chứng, có khi khiến ta gặp ác mộng, toát mồ hôi, hoặc bị nhức đầu buổi sáng lúc mới thức. Rủi đường xuống thấp thêm nữa, đầu óc ta bắt đầu mất sáng suốt, có những hành vi khác thường, và rồi hôn mê, hoặc giật kinh phong.
    Sự chữa trị cần khẩn cấp. Còn tỉnh, hãy dùng ngay bất cứ thứ gì có đường: kẹo, các thức uống ngọt. Không còn tỉnh, nếu trong nhà có sẵn thuốc chích glucagon, trước khi gọi 911, người nhà chích thuốc glucagon cho người bệnh, thường người bệnh sẽ tỉnh lại trong vòng 10-15 phút; còn trong môi trường nhà thương, bác sĩ sẽ truyền ngay vào tĩnh mạch một ống thuốc chứa nước đường. Vị nào hay bị những cơn đường máu xuống quá thấp, nên trữ sẵn ở nhà thuốc chích glucagon. (Glucagon là chất có tác dụng ngược với insulin, làm đường tăng lên trong máu).
    Các biến chứng xa
    Có người may mắn không bao giờ bị những biến chứng xa, về lâu về dài của tiểu đường, ngược lại có vị bị, và nhiều biến chứng xảy ra cùng lúc. Nói chung, các biến chứng thường xảy ra 15-20 năm sau khi bệnh được định ra.
    1. Biến chứng tim mạch:
    Tiểu đường hay làm hư hoại các mạch máu, đưa đến bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau. Nếu bệnh làm hư hoại những mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân, các mạch máu này tắc nghẽn, gây chứng đau các bắp thịt chân khi đi đứng, chứng hoại thư (gangrene) bàn chân. Nếu bệnh làm hỏng mạch máu dẫn máu đến cơ quan sinh dục, sẽ gây chứng bất lực ở đàn ông.
    Hậu quả hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary artery disease) và tai biến mạch máu não (stroke) cũng hay xảy ra. Bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim dẫn máu đến nuôi tim có thể đưa đến chết cơ tim cấp tính (hay được gọi nôm na "heart attack"). Thường chết cơ tim cấp tính gây đau ngực dữ dội, song, người tiểu đường có khi không cảm thấy đau vì những thần kinh dẫn truyền cảm giác từ tim cũng đã hư hoại mất rồi. Sự định bệnh chết cơ tim cấp tính ở người tiểu đường khó khăn hơn ở người không mang bệnh tiểu đường. Tiểu đường còn có thể làm viêm cơ tim, gây suy tim.
    Bạn biết rồi, thuốc lá, cao áp-huyết cũng gây bệnh hẹp tắc động mạch tim. Thuốc lá làm nghẽn luôn các mạch máu ngoại biên. Người tiểu đường, đã có sẵn những hư hoại gây do tiểu đường, tuyệt đối nên giã từ thuốc lá. (Chỉ thị của Medicare: trong hồ sơ điện tử, với mọi người bệnh, bác sĩ phải hỏi và ghi người bệnh có hút thuốc lá không, nếu có, bác sĩ cần khuyên người bệnh bỏ hút.)
    Nếu người tiểu đường cũng có cao áp huyết, việc chữa trị bệnh cao áp-huyết cần sớm và mạnh. Tiểu đường và cao áp huyết lại hay đi đôi với nhau. Thuốc chữa cao áp huyết nhiều loại. Có loại làm đường cao thêm trong máu, do ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng. Có loại làm mỡ trong máu (cholesterol, triglycerides) lên cao. Thường bác sĩ sẽ tránh dùng những loại thuốc này cho bạn, nếu bạn vừa cao áp huyết, vừa bị tiểu đường. (Chỉ thị của Medicare đưa xuống các tổ hợp y tế để bác sĩ thi hành: với người có cao áp huyết, bác sĩ cần chữa đưa áp huyết ít nhất cũng phải xuống dưới 140/90.)
    2. Biến chứng ở mắt:
    Mắt giống một máy ảnh, giúp ta nhìn thấy các hình ảnh của thế giới bên ngoài. Trong mắt có một màng lót nằm ở phía sau gọi là võng mạc (retina), hoạt động như phim của máy ảnh. Võng mạc nối liền với thần kinh thị giác. Các hình ảnh khi vào mắt, chiếu lên võng mạc. Võng mạc thu nhận các hình ảnh, và thần kinh thị giác biến những hình ảnh này thành những tín hiệu truyền về óc. Nếu phim trong máy ảnh xấu, hư, ảnh rửa ra tất nhòa, không rõ. Tương tự như vậy, nếu võng mạc bị hư hoại, các hình ảnh thu nhận trên võng mạc bị mờ. Thần kinh thị giác dù tốt, cũng chỉ trung thực truyền những tín hiệu mờ trên võng mạch về óc, và kết quả là ta không nhìn thấy rõ. Khi võng mạc hư hoại nhiều quá, ta bị mù. Ở Mỹ, xứ không có chiến tranh và ít các bệnh nhiễm trùng mắt nguy hiểm, tiểu đường là nguyên nhân dẫn đầu gây mù lòa. Khám đáy mắt có thể thấy những tổn thương do tiểu đường gây trên võng mạc.
    Biến chứng hư hoại võng mạc mắt tùy thuộc vào tuổi của người bệnh lúc mới bị tiểu đường, cũng như thời gian mang bệnh. Càng sớm bị, thời gian mang bệnh càng lâu, càng nguy. Khoảng 85% người tiểu đường sau sẽ có biến chứng tổn thương võng mạc. Tổn thương võng mạc do tiểu đường có cách chữa: bắn tia Laser đốt những vết thương trên võng mạc (photocoagulation).
    Ngoài hư hoại võng mạc, tiểu đường còn gây bệnh tăng áp suất trong mắt (glaucoma), đục thủy tinh thể (cataract). Dù các biến chứng vừa kể không xảy ra, khi đường lên cao, mắt cũng hay mờ. (Chỉ thị của Medicare đưa xuống các tổ hợp y tế để bác sĩ thi hành: phải chữa đưa trị số đường máu HbA1C của người bệnh xuống dưới 9, và mỗi năm, phải gửi người bệnh tiểu đường gia nhập tổ hợp đi khám mắt.)
    Mang bệnh tiểu đường, chúng ta cũng nên thường xuyên thay kính; kính quan trọng ở người tiểu đường, vì giúp mắt nhìn rõ hơn trong việc tự săn sóc cho mình hàng ngày (lấy thuốc uống, chích insulin, tự khám bàn chân mỗi ngày, ...). (Các vị có Medi-Medi nay phải gia nhập tổ hợp y tế như Easy Choice, Central Health, … mới đi khám mắt làm kính được.)
    3. Biến chứng suy thận:
    Ở Mỹ, khoảng nửa số người suy thận là do tiểu đường. Suy thận là nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong và tàn tật cho những vị bị tiểu đường.
    Suy thận thường xảy ra 12 năm sau khi tiểu đường bắt đầu xuất hiện. Bệnh thận càng tiến triển mau lẹ nếu có cao áp huyết đi cùng. Suy thận ở giai đoạn cuối cần lọc thận hay thay thận. Chữa trị tiểu đường cẩn thận có thể làm chậm tiến triển của suy thận. Bị thêm cao áp huyết, cao áp huyết cần được kiểm soát chặt chẽ. Một số thuốc chữa cao áp huyết có thêm tác dụng làm giảm sự tiến triển của bệnh thận gây do tiểu đường. (Chỉ thị của Medicare đưa xuống các tổ hợp y tế để bác sĩ thi hành: phải dùng các thuốc cao áp huyết thuộc nhóm thuốc ACE Inhibitor, hoặc ARB để chữa cho người tiểu đường mang luôn bệnh cao áp huyết.)
    Nhiễm trùng đường tiểu (urinary tract infection) làm thận người tiểu đường suy nhanh hơn, nên nếu xảy ra, cần được chữa trị tới nơi tới chốn. Một vấn đề nữa: các thuốc có thể hại cho thận, như những thuốc chống đau nhức Advil, Ibuprofen, Motrin, Naprosyn, ..., nên tránh dùng nếu không thực sự cần thiết.
    4. Tổn thương ở hệ thần kinh:
    Tiểu đường còn làm thương tổn hệ thần kinh ở khắp nơi trong cơ thể, có lẽ chỉ trừ trên óc. Các tổn thương tuy không thực sự nguy hiểm, nhưng khiến ta khó chịu:
    - Khi các thần kinh nhỏ ở tay, chân tổn thương, sẽ gây tê, đau ở tay hay chân, thường là cả hai bên. Cái đau như điện giật, cảm thấy sâu trong xương, nặng hơn về đêm.
    Sự chữa đau không dễ. Đầu tiên, chúng ta nỗ lực đưa đường máu xuống mức bình thường. Nếu không ăn thua, dùng các thuốc như Elavil, Tegretol, Neurontin, Lyrica có thể giúp giảm đau. Những thuốc này có tác dụng xoa dịu những cái đau gây do thần kinh. Với những cơn đau dữ dội, có khi phải cần đến thuốc giảm đau mạnh chứa chất nha phiến.
    Người tiểu đường cũng có thể bất ngờ liệt bàn chân, bàn tay, không nhấc bàn chân, bàn tay lên được, hoặc mắt tự nhiên lé. Những biến chứng này từ từ sẽ bớt.
    - Khi các thần kinh tự động (autonomic nervous system) điều khiển sự hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể bị tổn thương, nhiều triệu chứng xảy ra. Thường nhất là các triệu chứng tiêu hoá: khó nuốt, đầy hơi sau khi ăn, bón hoặc tiêu chảy. Tiêu chảy hay xảy ra về đêm, ảnh hưởng đến giấc ngủ. May thay, các thuốc cầm tiêu chảy thường dùng có thể kiểm soát được tiêu chảy do tiểu đường. Với tiểu đường, bệnh dội ngược bao tử - thực quản (gastro-esophageal reflux, các thức trong bao tử dội ngược lên thực quản sau khi ăn) cũng hay xảy ra.
    Bình thường, khi ta đứng lên ngồi xuống, hệ thần kinh tự động nhanh chóng điều chỉnh hệ thống tim mạch, để áp huyết luôn ở trạng thái cân bằng, và lúc nào cũng có đủ máu lên óc ta. Khi hệ thần kinh tự động đã hư hoại vì tiểu đường, cơ chế điều chỉnh áp huyết bị xáo trộn. Đang nằm hoặc ngồi mà đột ngột đứng lên, áp huyết hay bất ngờ hạ thấp, khiến người bệnh thấy chóng mặt, có khi ngất xỉu. Trường hợp này, người bệnh được khuyên nằm ngủ với đầu giường nâng cao (bằng cách chèn gỗ hoặc vật cứng dưới đầu giường). Người bệnh cũng nên tránh đứng dậy nhanh buổi sáng lúc mới thức. Ngược lại, nên ngồi dậy chầm chậm, và ngồi ở cạnh giường một lát trước khi đi lại. Các vớ chân đặc biệt (giúp máu từ chân về tim nhiều hơn) cũng giúp làm giảm triệu chứng. Khi hệ thần kinh tự động hư hoại, bọng đái hay làm việc bất thường, gây khó tiểu hoặc không kiểm soát được nước tiểu.
    5. Các vết loét và nhiễm trùng ở chân:
    Một trong những biến chứng quan trọng khác của tiểu đường là những vết loét ở chân và bàn chân. Tiểu đường làm hư hoại các dây thần kinh cảm giác ngoại biên, nên chân người tiểu đường ít, hoặc không cảm thấy đau khi bị vật lạ đâm vào. Chân dễ thương tổn, do người bệnh không cảm thấy đau nên không để ý, tìm cách tránh né các vật làm hại. Giầy không vừa chân cũng hay làm bỏng phồng, trầy lở da chân, gây các vết loét. Phần khác, như ta đã biết, tiểu đường làm hỏng các mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân và bàn chân. Các vết loét vì thế lâu lành và hay bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng nếu nặng, có thể đưa đến cưa bàn chân hay chân.
    Những phương cách sau được xem là hữu hiệu để ngừa các vết loét và nhiễm trùng bàn chân khi bị tiểu đường: mỗi ngày bạn nên tự thăm khám chân, bàn chân và để ý những dấu chứng:
    - Sưng, đỏ, đau, có mủ, có đường đỏ chạy dài từ bàn chân lên chân.
    - Các chỗ da chai cứng (corns, calluses): da dưới những chỗ này hay bị thương tổn.
    - Móng chân dài quá, cần cắt ngắn bớt.
    - Những vùng đau ở chân gây do giầy chật. Những vùng hay bị sót, thường không được để ý kỹ là vùng gót chân và giữa các ngón chân.
    Nếu mắt bạn kém, nhìn không rõ, bạn có thể nhờ người nhà xem xét bàn chân hộ. Đồng thời, nhờ bác sĩ khám chân cho bạn ít nhất mỗi năm 1 lần.
    Mỗi ngày bạn rửa chân với xà-bông nhẹ và nước ấm, sau đó dùng lotion chống khô da thoa chân giúp da chân khỏi khô (da khô dễ tổn thương và nhiễm trùng). Bạn tránh dùng nước nóng, và nhớ dùng tay thử trước, xem nước nóng đến mức độ nào trước khi nhúng chân vào bồn tắm. Đừng đi chân đất bạn ạ, dù ở nhà, và nên đi giầy thật vừa vặn hầu tránh bị trầy lở chân, hoặc có những chỗ chai cứng gây do giầy. Bạn nhớ bỏ giầy ra ít nhất 1 lần mỗi ngày. Khi mang giầy mới, những ngày đầu, bạn chỉ nên mang giầy tối đa 1 tiếng mỗi ngày để khỏi phồng da chân. Có nhiều loại giầy được chế tạo đặc biệt để bảo vệ chân, tốt cho chân của người tiểu đường. Nếu không, bạn có thể dùng các giầy thể thao cũng tốt. Trước khi xỏ chân vào giầy, bạn nhớ xem xét cẩn thận, tìm các vật lạ trong giầy có thể làm thương tổn chân bạn. Vớ nên thay mỗi ngày. Dùng những loại vớ đặc biệt giúp tránh phồng da càng tốt. Khi cắt móng chân, bạn nên cắt ngang các móng chân, thay vì cắt vanh tròn. Cắt vanh tròn theo ngón chân dễ phạm phải thịt.
    Với bệnh tiểu đường, có nhiều vấn đề về bàn chân chúng ta phải cần đến podiatrist (bác sĩ chuyên săn sóc bàn chân). Podiatrist giúp cắt bỏ các chỗ da bàn chân dầy cứng, những móng chân mọc bất thường, đâm sâu vào thịt. (Các vị có Medi-Medi nay phải gia nhập các tổ hợp y tế mới đi khám podiatrist được.)
    6. Các biến chứng nhiễm trùng khác:
    Ngoài những nhiễm trùng ở chân, người tiểu đường cũng dễ bị nhiễm trùng ở những nơi khác trong cơ thể, vì sức kháng cự của cơ thể giảm. Một vài bệnh nhiễm trùng, do vi trùng hay nấm, ít xảy ra ở người bình thường, hay xảy ra nơi người tiểu đường. Chẳng hạn, bệnh lao, bệnh nấm âm đạo (gây ngứa âm đạo), bệnh viêm tai ngoài rất nguy hiểm do vi trùng Pseudomonas.
    Như ta thấy, bệnh tiểu đường đưa đến nhiều biến chứng quan trọng. Sự chữa trị cẩn thận ngoài mục đích làm giảm các triệu chứng do tiểu đường gây ra (mệt mỏi, xuống cân, tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước, ...), còn nhắm ngăn ngừa các biến chứng.
    Xin hẹn gặp lại tuần tới, chúng ta sẽ bàn đến việc chữa trị tiểu đường.
    Gia Ngộ and Dongho like this.
  4. THUỐC UỐNG CHỮA TIỂU ĐƯỜNG

    Qua những bài trước, chúng ta đã tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, cách định bệnh tiểu đường, các biến chứng, cũng như sự chữa trị tiểu đường bằng ăn kiêng, vận động. Trong bài này, ta bàn đến các thuốc uống dùng chữa tiểu đường.
    Bệnh tiểu đường nguy hiểm, nên gần đây, các tài liệu y khoa khuyên chúng ta mạnh tay với nó hơn trước, dùng thuốc ngay khi định ra bệnh tiểu đường, không chờ một thời gian xem ăn kiêng và vận động có đưa được đường máu xuống lại mức bình thường, nếu không mới dùng thuốc.
    Xin nhắc lại một chút, có hai loại tiểu đường: loại 1, thường xảy ra ở người dưới 40 tuổi (loại thiếu chất insulin trong cơ thể), và loại 2, thường xảy ra ở người trên 40 (loại vẫn có insulin trong cơ thể, song insulin không thể tác động, đưa đường từ máu vào trong các tế bào). Chữa trị tiểu đường loại 1, phải dùng thuốc chích chứa chất insulin (nay sắp có thêm thuốc xịt), để thay thế cho insulin thiếu trong cơ thể. Chữa tiểu đường loại 2, có nhiều cách thế hơn: ăn kiêng để xuống cân nếu nặng cân quá, vận động, dùng thuốc uống hoặc thuốc chích. Mọi chữa trị đều nhắm mục đích cố đưa đường máu trở về mức bình thường: giữ đường máu sáng chưa ăn trong khoảng 70-130 mg/dl, trị số đường máu trung bình 3 tháng HbA1C dưới 7 (tuy nhiên, ở các vị cao niên sức khỏe không tốt, HbA1C có thể giữ ở mức từ 7 đến 8).
    Trong sự chữa trị căn bệnh, chúng ta cũng nên để ý đến yếu tố tài chánh, theo đúng 4 tôn chỉ chữa trị của y khoa: hữu hiệu, ít tác dụng phụ, tiện lợi, vừa tiền. Nhiều thuốc tiểu đường mới rất đắt, không tốt hơn các thuốc cũ, và các tác dụng phụ về lâu về dài người ta chưa hiểu rõ (một số thuốc, như Avandia, sau vài năm lưu hành tự do ngoài thị trường nay đã bị hạn chế, hoặc thêm cảnh báo có thể gây vấn đề bác sĩ cần để ý). Chúng ta cố chọn thuốc nào vừa tiền, hữu hiệu, ít gây tác dụng phụ và cũng tiện lợi, không phải dùng nhiều lần trong ngày.
    Các thuốc uống chữa tiểu đường loại 2
    Các thuốc uống chữa tiểu đường loại 2 tác dụng qua nhiều cơ chế khác nhau: có thuốc thúc tụy tạng tiết thêm insulin (ba nhóm thuốc sulfonylureas, meglitinides, sitagliptin), có thuốc giúp insulin hoạt động hữu hiệu hơn (hai nhóm thuốc biguanides và thiazolidinediones), có thuốc ngăn ruột bớt hấp thu chất đường khi chúng ta ăn (nhóm thuốc alpha-glucosidase inhibitors).
    1. Thuốc nhóm biguanides:
    Nhóm này có một thuốc metformin (Glucophage), khiến insulin tác dụng mạnh hơn, đưa đường từ máu vào các cơ quan nhiều hơn. Thuốc còn ngăn sự tạo đường máu từ gan (đường trong máu một phần được tạo từ gan). Glucophage cũng làm giảm khẩu vị, giúp xuống cân.
    Thuốc nên tránh dùng ở các vị trên 80, người suy thận (có trị số creatinine hơn 1.5 mg/dl ở đàn ông và hơn 1.4 mg/dl ở đàn bà), người bệnh gan, bệnh tim, uống rượu nhiều.
    Glucophage có thể làm tiêu chảy. Để tránh phản ứng tiêu chảy do thuốc, ta dùng thuốc từ từ thôi, tăng chầm chậm cho đến khi lên đến lượng ta muốn. Ăn kém ngon, mau no, đầy hơi, buồn nôn là những phản ứng phụ khác của thuốc, hay xảy ra khi ta mới dùng nó, sau sẽ giảm dần, hoặc khi ta giảm bớt lượng thuốc đang dùng.
    Thuốc Glucophage không nên uống lúc bụng đói. Lượng tối thiểu của thuốc là 500 mg mỗi ngày, tối đa 2550 mg mỗi ngày.
    Thuốc metformin thường được dùng đầu tiên khi bệnh tiểu đường được định ra, vì thuốc hữu hiệu, không làm lên cân, và giá cũng vừa phải (một tháng thuốc khoảng 13-80 Mỹ kim, tùy lượng dùng).
    2. Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas:
    Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas được dùng để chữa tiểu đường gần 40 năm qua. Các thuốc cũ ra đời từ lâu: Diabenese, Orinase, Tolinase, Dymelor; các thuốc mới hơn, được dùng nhiều trong thời gian gần đây: Micronase, Diabeta, Glynase, Glucotrol, Amaryl.
    Cơ chế tác dụng chính của thuốc là thúc đẩy tuyến tụy tạng ráng tiết thêm insulin, để cơ thể có thêm insulin đưa đường từ máu vào các tế bào, giúp đường trong máu giảm xuống. Thuốc thuộc nhóm sulfonylureas có thể gây buồn nôn, đầy hơi vùng bụng trên, nóng ngực, lên cân (2-7 cân), làm các trị số của gan tăng cao (liver enzyme elevations).
    Đa số người bị tiểu đường loại 2 (khoảng 2/3), khi dùng thuốc sulfonylureas, đường trong máu sẽ xuống. (Với một số vị, ngay từ đầu, thuốc đã không có tác dụng, dùng cũng như không, đường máu cao vẫn hoàn cao). Tiếc thay, ở nhiều người (đến 20%), sau một thời gian dùng thuốc có kết quả tốt, đường máu từ từ lên lại.
    Trong sự chữa trị, khi thuốc metformin đã uống đến lượng tối đa song vẫn không hữu hiệu, các bác sĩ thường dùng thêm thuốc thuộc nhóm sulfonylureas. Thuốc rẻ, chỉ vài chục mỗi tháng.
    3. Thuốc thuộc nhóm troglitazones:
    Gồm hai thuốc Actos và Avandia, khá đắt (giá từ 193.48 đến 293.99 Mỹ kim một tháng, tùy lượng). Thuốc Avandia, sau vài năm lưu hành, gây một số tác dụng phụ nguy hiểm, đã bị hạn chế, không còn được sử dụng rộng rãi ngoài thị trường nữa.
    Thuốc thuộc nhóm troglitazones có tác dụng làm các tế bào bắp thịt và tế bào mỡ của người tiểu đường loại 2 nhạy cảm hơn với insulin, khiến insulin tác dụng mạnh hơn, đưa đường từ máu vào trong các tế bào này khỏe hơn, đánh đúng vào cơ chế "lờn insulin" của tiểu đường loại 2.
    Dùng đến hai thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas mà đường vẫn chưa xuống đến mức chúng ta mong muốn, các bác sĩ thêm vào thuốc thuộc nhóm troglitazones, hoặc chuyển sang thuốc chích insulin (nếu thấy đường còn quá cao, có uống thêm thuốc Actos cũng không ích gì, hoặc vì Actos đắt, người bệnh không đủ tài chánh để dùng).
    4. Thuốc nhóm meglitinides:
    Gồm hai thuốc Prandin (200-300 Mỹ kim một tháng thuốc) và Starlix (150-200 Mỹ kim một tháng thuốc), tác dụng giống các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, có thể dùng để thay cho các thuốc sulfonylureas, trường hợp vị nào không dùng được thuốc sulfonylureas vì nhạy ứng với chất sulfa. Thuốc tác dụng nhanh, uống ngay trước hoặc trong lúc đang dùng bữa ngày 2-4 lần.
    Nhóm thuốc này đắt tiền, so với thuốc sulfonylureas cũng không lợi hơn, nên thường ít được dùng.
    5. Thuốc nhóm sitagliptin:
    Nhóm này có hai thuốc Januvia ($223.99 Mỹ kim một tháng thuốc) và Onglyza (giá tương tự) ra đời thời gian gần đây, tác dụng giống các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, làm tăng sự tiết insulin. Thuốc có thể dùng riêng hoặc dùng chung với các thuốc thuộc các nhóm khác.
    Hai thuốc này đắt tiền, tác dụng cũng nhẹ, nên ít được dùng hơn thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas.
    6. Thuốc thuộc nhóm alpha-glucosidase inhibitors:
    Gồm hai thuốc Precose (từ $85.51 đến $109.99, tùy lượng dùng) và Glyset (từ $111.99 đến $125.99, tùy lượng dùng), hoạt động ngay trong ruột non, ngăn cản những diếu tố (enzymes) có nhiệm vụ phân hóa chất đường (carbohydrates) ta ăn vào. Như vậy, chất đường trong ruột chậm được hấp thụ vào cơ thể, khiến đường ngay sau khi ta ăn không lên cao trong máu.
    Thuốc hay gây đầy hơi, tiêu chảy. Thuốc không nên dùng cho người có những xáo trộn đường ruột: viêm ruột (inflam matory bowel disease), tắc ruột bán phần (partial intestinal obstruction), lở ruột già (colonic ulceration), ... Thuốc cũng có thể độc cho gan, trong năm đầu khi mới dùng thuốc, nên thử máu mỗi 3 tháng xem gan có sao không, sau đó lâu lâu cần thử lại.
    Hai thuốc Precose và Glyset không làm đường máu xuống quá thấp (hypoglycemia), song nếu cho dùng chung với thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, thuốc có thể làm đường máu xuống thấp dưới 70 mg/dl, gây nguy hiểm. Khổ cái, nếu chỉ dùng thuốc sulfonylureas không thôi, khi đường máu xuống thấp quá, ta có thể mau chóng giúp nó lên lại bình thường bằng cách uống ngay nước trái cây (fruit juice) hoặc ăn thức ngọt, nhưng khi dùng thêm thuốc Precose hoặc Glyset, ta không chữa biến chứng đường xuống thấp bằng những cách giản dị này được. Mà phải dùng những viên thuốc hoặc nước chứa chất đường gọi là "glucose tablets", "glucose liquid", hoặc chích một thuốc có tên "glucagon", để đưa đường máu lên lại mức bình thường.
    Thuốc uống chữa tiểu đường nhiều, song chúng ta cẩn thận với những thuốc mới, chúng đắt, không tốt hơn những thuốc cũ ra đời từ lâu, và tác dụng phụ về lâu về dài cũng chưa được biết rõ. Vì vậy, đến nay, các thuốc thuộc hai nhóm biguanides và sulfonylureas vẫn thường được dùng nhiều nhất.
    Bài kỳ sau, chúng ta sẽ bàn về các thuốc chích chữa tiểu đường.
    Gia Ngộ and Dongho like this.
  5. THUỐC CHÍCH CHỮA TIỂU ĐƯỜNG

    Bài kỳ này, chúng ta bàn đến các thuốc chích để chữa bệnh tiểu đường loại 2, loại người lớn chúng ta hay bị.
    Thuốc chích insulin
    Nhiều người tiểu đường loại 2 dùng thuốc uống một thời gian, căn bệnh đâm lờn thuốc. Thuốc uống hết mức song đường máu vẫn cao, không chịu xuống, chúng ta dùng đến thuốc chích insulin. Hoặc có vị đường máu cao quá, từ đầu, bác sĩ đã quyết định dùng ngay thuốc chích insulin để nhanh chóng đưa đường máu xuống.
    Quyết định sử dụng thuốc chích insulin, và thứ nào, còn tùy thuộc vào một số yếu tố khác nữa: thuốc uống quá đắt, tuổi tác người bệnh, các triệu chứng đang có, các biến chứng muốn tránh, các bệnh khác đang bị, và tuổi thọ tiên đoán (overall life expectancy).
    Thuốc chích insulin nhiều thứ. Thứ tác dụng ngắn ngày chích nhiều lần, thứ tác dụng dài, như Lantus (chai 10 ml giá $118.99) ngày chích 1 lần, Levemir (chai 10 ml giá $136), ngày chích 1, 2 lần. Có khi cần phối hợp cả thuốc tác dụng dài lẫn ngắn.
    Tác dụng phụ của các thuốc chích insulin là làm lên cân, và có thể gây những cơn đường xuống quá thấp (hypoglycemia).
    Hai thuốc chích Bayetta và Victoza
    Mấy năm gần đây, chúng ta có thêm hai thuốc chích Bayetta ($337 một chai) và Victoza (giá chắc tương tự).
    Hai thuốc Bayetta và Victoza tác dụng theo một cơ chế khác với thuốc chích insulin, không làm lên cân hoặc khiến đường máu xuống thấp.
    Trong rừng thuốc chữa tiểu đường, vai trò của hai thuốc này chưa được xác định rõ rệt, thuốc dùng về lâu về dài có an toàn không người ta chưa thực biết, hơn nữa, chúng ta lại quá đắt so với thuốc insulin, nên hai thuốc này ít được dùng hơn thuốc chích insulin.
    Các cách chữa phối hợp
    Sự chữa trị bệnh tiểu đường ngày càng phức tạp, vì nhiều thuốc mới ra đời, và trong rừng thuốc chữa tiểu đường, chúng ta chọn thuốc thế nào để sự chữa trị hữu hiệu, an toàn và cũng không quá đắt. Nhiều vị nghe quảng cáo có thuốc mới, muốn bác sĩ dùng cho mình, nhưng xin nhớ, thuốc mới thường mắc hơn nhiều, không chắc tốt hơn thuốc cũ, và dùng thuốc lâu dài có an toàn không, với nhiều thuốc mới, còn là một dấu hỏi.
    Ngày xưa, chữa tiểu đường loại 2, các thuốc thuộc nhóm sulfonylureas (Diabenese, Orinase, Tolinase, Dymelor, Micronase, Diabeta, Glynase, Glucotrol, Amaryl) thường được các bác sĩ đem ra thử trước. Nhưng nay, với những kiến thức mới, việc chữa trị đã được đổi lại, thuốc metformin thường được dùng trước.
    Dùng đến lượng tối đa thuốc metformin, đường chưa xuống đến mức mong muốn, ta có thể dùng thêm thuốc thuộc nhóm sulfonylureas, hoặc thuốc thuộc nhóm troglitazones đắt hơn (Actos), nếu vì lý do nào đó, không thể dùng được thuốc sulfonylureas.
    Dùng đến hai thuốc metformin và thuốc thuộc nhóm sulfonylureas mà đường vẫn cao, chúng ta thêm vào thuốc thuộc nhóm troglitazones (Actos), hoặc chuyển sang thuốc chích insulin (nếu thấy đường còn quá cao, có uống thêm thuốc Actos cũng không ích gì, hoặc vì Actos quá đắt, chúng ta không đủ tài chánh để dùng).
    Các thuốc đắt tiền như Prandin, Starlix, Januvia, Onglyza có khi cũng phải dùng đến, nhưng nếu vì chúng quá đắt, bảo hiểm, Medicare không cho, chúng ta dùng thuốc chích insulin lợi hơn.
    Một cách phối hợp khác: dùng thuốc uống, kèm thuốc chích insulin ngày một lần.
    Dẫu vậy, chung cuộc, nếu đã phối hợp nhiều thuốc uống, hoặc uống ban ngày, chích insulin ban tối, song tiểu đường vẫn cứng đầu, đường máu vẫn cao, thì rồi cũng đành trông nhờ vào thuốc chích insulin vậy. Đôi khi cần dùng đến 100-200 đơn vị insulin mỗi ngày. Hai thuốc chích mới Bayetta và Victoza quá đắt, sự an toàn về lâu về dài chưa được hiểu rõ, ít được dùng hơn.
    Mặc cho những quảng cáo trên trời dưới biển, bệnh tiểu đường chưa thể chữa khỏi đâu bạn. Mặt trận chống tiểu đường vẫn chưa yên tĩnh, các khảo cứu vẫn không ngừng tiếp diễn. Hy vọng, vào một ngày đẹp trời, tin vui sẽ đến, các nhà y học sẽ bảo: đã tìm ra thuốc trị tuyệt tiểu đường. Từ giờ đến ngày ấy, bạn đừng tin vào những tiên tri giả khiến bạn tốn tiền vô ích.
    Gia Ngộ and Dongho like this.

Chia sẻ trang này